Trang chủ . Tin chuyên nghành

MỘT SỐ NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG QCVN 06:2010/BXD - QUY CHUẨN KỸ THUẬT QUỐC GIA VỀ AN TOÀN CHÁY CHO NHÀ VÀ CÔNG TRÌNH



QCVN 06:2010/BXD được Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng phối hợp cùng Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ nghiên cứu biên soạn, được Bộ Xây dựng ban hành vào năm 2010. Kể từ khi có hiệu lực, các quy định của quy chuẩn này đã có những tác động rõ rệt vào thực tế cuộc sống. Một mặt quy chuẩn này đã đóng góp thêm một công cụ hữu hiệu phục vụ cho các cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng cũng như về an toàn cháy trong công tác quản lý thiết kế, quản lý chất lượng các công trình xây dựng theo hướng phù hợp với trình độ kỹ thuật hiện nay của thế giới, đặc biệt là đối với các công trình có quy mô lớn và ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, do đây là lần đầu tiên các vấn đề về an toàn cháy cho nhà và công trình được ban hành dưới hình thức một quy chuẩn kỹ thuật quốc gia riêng biệt và trong đó cũng bao hàm nhiều khái niệm mới, cách tiếp cận mới của các quốc gia phát triển (Nga, châu Âu, Singapore,...) ví dụ như phân loại về vật liệu, cấu kiện theo các đặc trưng kỹ thuật về cháy hoặc phân loại nhà theo tính nguy hiểm cháy theo công năng hay việc bố trí thang bộ thoát nạn, ... kết hợp với việc chúng ta chưa có điều kiện để biên soạn và ban hành các tài liệu hướng dẫn giải thích chi tiết từng quy định nên trong thời gian đầu mới ban hành những điều này đã làm cho việc áp dụng QCVN. 06:2010/BXD gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong lần biên soạn đầu tiên, một số quy định kỹ thuật quan trọng cũng chưa có đủ điều kiện, cơ sở để đưa vào nội dung của quy chuẩn, ví dụ như các vấn đề: cấp nước chữa cháy; thang máy cho lực lượng chữa cháy; bố trí sử dụng các khu chức năng của tầng hầm, ... Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Bộ Xây dựng đã giao Viện KHCN Xây dựng tiến hành nghiên cứu, soát xét nội dung QCVN 06:2010/BXD. Bên cạnh những nhu cầu của thực tế, việc soát xét nội dung QCVN 06:2010/BXD cũng đáp ứng quy định của Điều 35, Luật tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật  (số 68/2006/QH11, ngày 29 tháng 6 năm 2006).

 

Dưới đây là những nội dung được đề nghị sửa đổi, bổ sung:

 

Các nội dung cụ thể:

 

Về tổng thể, có một số nội dung nổi bật được soát xét và điều chỉnh trong dự thảo quy chuẩn gồm:

 

a) Vấn đề gây nhiều phản ứng nhất của xã hội trong việc áp dụng QCVN 06:2010/BXD chính là bố trí buồng thang bộ không nhiễm khói loại N1 trong các nhà có chiều cao lớn hơn 28 m. Trên thực tế, để giải quyết vấn đề này các chủ đầu tư cũng đã đưa ra phương án kỹ thuật bổ sung đối với các buồng thang bộ không nhiễm khói N2 hoặc N3 để thay thế cho N1. Tuy nhiên do quy định về quản lý, nên hiện nay để thực hiện được việc này các chủ đầu tư bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận với Cục CS PCCC&CNCH và Bộ Xây dựng. Để giải quyết vấn đề này, nội dung dự thảo đã tiếp cận theo hai hướng. Một mặt quy định thêm phương án thay thế đối với buồng thang không nhiễm khói N1 ngay trong Điều 2.5.1, song song đó trong Điều 3.4.10 (3.4.9 hiện hành) cũng đưa ra các giải pháp bố trí khoảng đệm không nhiễm khói để mở rộng khả năng đáp ứng quy định kỹ thuật tùy theo điều kiện thực tế của mỗi công trình.

Điều 2.5.1 về phân loại cầu thang, trên cơ sở tham khảo nội dung liên quan trong luật liên bang của Nga № 123-ФЗ ngày 22 tháng 7 năm 2008 “Технический регламент о требованиях пожарной безопасности” và СНиП 21-01 (Bản dự thảo thực hiện năm 2007) Пожарная Безопасность Зданий И Сооружений nội dung dự thảo cũng bổ sung thêm một giải pháp thay thế buồng thang không nhiễm khói N1 bằng buồng thang bộ có bố trí kết hợp các hệ thống bảo vệ ngăn khói dùng trong các buồng thang bộ không nhiễm khói loại N2 và N3, với việc cấp khí vào khoang đệm và vào buồng thang.

Điều 3.4.10 (3.4.9 hiện hành) quy định về đảm bảo tính không nhiễm khói cho buồng thang bộ không nhiễm khói loại N1. Ở phiên bản hiện hành, việc tiếp cận vào buồng thang bộ không nhiễm khói loại N1 quy định phải đi qua một lối đi tiếp xúc với khoảng thông thoáng bên ngoài với yêu cầu cơ bản là phải tiếp xúc trực tiếp với không khí ở bên ngoài nhà. Trong dự thảo lần này, “lối đi” đó được thay thế bằng “khoảng đệm” được thông gió tự nhiên, điều này cho phép vừa đáp ứng đúng yêu cầu kỹ thuật cốt lõi là vấn đề thoát khói mà không phụ thuộc các giải pháp cơ khí  đồng thời cũng mở rộng khả năng đáp ứng của người thiết kế về mặt giải pháp bố trí mặt bằng – không gian  không bó buộc phải tiếp xúc trực tiếp (tức là hở hoàn toàn) với không khí bên ngoài mà có thể thông qua một hành lang bên hoặc các sảnh không nhiễm khói,  đảm bảo các quy định về kích thước hình học cũng như các bộ phận cấu thành. Trên cơ sở đó nội dung dự thảo cũng đã tham khảo các giải pháp bố trí khoảng đệm không nhiễm khói được đề xuất trong tài liệu chuẩn của Singapore.

 

b) Trong nội dung quy chuẩn hiện hành (điều 3.3.7) không cho phép bố trí cầu thang xoắn ốc, cầu thang cong toàn phần hoặc từng phần trên đường thoát nạn. Tuy nhiên, thế nào là cầu thang cong thì chưa được định nghĩa một cách định lượng. Trong quá trình áp dụng thực tế, nảy sinh vấn đề phân biệt và xác định rõ các tiêu chí để coi là một cầu thang cong và phạm vi áp dụng của nó trong đường thoát nạn. Nghiên cứu các quy định liên quan của một số quốc gia như Anh, Mỹ và Singapore thì ở một chừng mực nào đó, các đoạn cầu thang cong vẫn có thể được bố trí trên đường thoát nạn. Cụ thể như sau:

− NFPA 101-2009 Life safety codes (Mỹ), điều 7.2.2.2.2 Cầu thang cong: cho phép sử dụng cầu thang cong làm một phần của đường thoát nạn với điều kiện chiều rộng của mặt bậc đo tại khoảng cách 305 mm tính từ phía đầu nhỏ nhất không được nhỏ hơn 280 mm và bán kính cong nhỏ nhất không được nhỏ hơn 2 lần chiều rộng của vế thang. 

 - 2012 International Building Codes (Mỹ), điều 1009.11 Cầu thang cong:  cho phép sử dụng cầu thang cong là một phần của đường thoát nạn với những điều kiện về kích thước bậc như sau: 

Chiều cao nhỏ nhất của bậc không nhỏ hơn 102 mm, chiều cao lớn nhất của cổ bậc không quá 178 mm; 

Chiều rộng của mặt bậc đo tại đường di chuyển (đường nằm cách 305 mm tính từ phía đầu nhỏ nhất) không được nhỏ hơn 279 mm; 

Bán kính cong nhỏ nhất không được nhỏ hơn 2 lần chiều rộng của vế thang.

− Approved document B 2006, Volume 2 (Vương quốc Anh), điều 5.22 các thang cong hoặc thang xoắn ốc có thể được sử dụng là một phần của đường thoát nạn nếu được thiết kế phù hợp với thang công cộng dạng E theo BS 5395-2:1984. Cụ thể, ngoài quy định về vật liệu làm thang trong điều 6, thì Bảng 2 của tiêu chuẩn này có quy định về kích thước hình học của bậc thang như sau:

Chiều cao cổ bậc 150 đến 190 mm;

Bề rộng mặt bậc phía trong (đo cách đầu nhỏ nhất của bậc 270 mm) không nhỏ hơn 150 mm;

Bề rộng mặt bậc ở giữa (đo tại giữa chiều dài của bậc) không nhỏ hơn 250 mm; Bề rộng mặt bậc phía ngoài (đo cách đầu to nhất của bậc 270 mm) không quá 450 mm;

Tổng của 2 lần chiều cao cổ bậc với bề rộng mặt bậc không nhỏ hơn 480 mm và không lớn hơn 800 mm;

Chiều rộng thông thủy của mặt bậc không nhỏ hơn 1.000 mm  − Fire codes 2013 của Singapore, điều 2.3.3.d (ii) quy định việc sử dụng thang bộ có mặt bằng tròn và có bậc chia dẻ quạt trong các công trình nhà phục vụ trường học có thể được cơ quan quản lý cho phép tùy vào điều kiện cụ thể và có kèm thêm các yêu cầu về chiều rộng tối thiểu của của mặt bậc ở phần nhỏ nhất không nhỏ hơn 100 mm và ở phần cách đầu nhỏ nhất 500 mm phải không nhỏ hơn 250 mm, đồng thời phải có tay vịn. Ngoài ra, các thang này chỉ cho phép sử dụng trong phạm vi chiều cao không quá 10 m.

− IS 1644:1988 (soát xét 2002) của Ấn Độ, điều 2.11.10 quy định thang mặt bằng tròn chỉ được hạn chế sử dụng trong những nhà có chiều cao không quá 9 m trừ khi có các chiếu nghỉ hoặc mặt sàn để người đi có thể dừng nghỉ.

− Trên cơ sở đó, nội dung dự thảo đã bổ sung thêm điều 3.4.4 quy định các yêu cầu bắt buộc phải đáp ứng về chiều cao thang và kích thước hình học hình học của các bộ phận cấu thành của thang để được phép bố trí trên đường thoát nạn.  

Cầu thang xoắn (a) và cầu thang cong (b) được trích dẫn định nghĩa trong BS 5395:Part 2:1984  

 

 c) Điều 4.12 quy định các đường ống kỹ thuật hoặc đường cáp đi xuyên qua một bộ phận ngăn cháy thì phải đảm bảo vị trí tiếp giáp không làm giảm các chỉ tiêu kỹ thuật về cháy của bộ phận ngăn cháy đó. Điều này có nghĩa là phần lân cận bộ phận ngăn cháy của các ống kỹ thuật, cáp phải có chỉ tiêu kỹ thuật về cháy tương đương với yêu cầu của bộ phận ngăn cháy. Các van ngăn cháy là bộ phận tự động đóng lại để bịt lỗ thông xuyên qua bộ phận ngăn cháy mà nó được lắp vào. Nếu các van ngăn cháy lắp đặt riêng biệt và hở bên ngoài thì vẫn phải đảm bảo yêu cầu về giới hạn chịu lửa như Bảng 2. Tuy nhiên với các van ngăn cháy lắp đặt trong các kênh, giếng, đường ống được phép xuyên qua bộ phận ngăn cháy và bản thân phần bao bọc các kênh, giếng hoặc đường ống này đã đảm bảo chịu lửa theo cả tiêu chí E và I rồi thì không nhất thiết van ngăn cháy phải cũng đảm bảo cả tiêu chí I. Do vậy trong nội dung Bảng 2 đã bổ sung thêm chú thích 1 để làm rõ điều này. Trên thực tế, các van ngăn cháy lắp đặt trong đường ống thông gió và điều hòa không khí, chủ yếu chỉ thiết kế để ngăn chặn lửa và/hoặc khói truyền qua, chứ không có chức năng cách nhiệt. Điều này được thể hiện trong các tài liệu như NFPA 90A Standard for installation of aircondistioning and ventilating systems hoặc UL 555 (2012) Standard for safety fire dampers.

 

d) Toàn bộ Chương 5 về cấp nước chữa cháy trong nhà và ngoài nhà được nghiên cứu bổ sung do nội dung quy chuẩn hiện hành chưa có quy định này;

 

e) Các quy định về thang máy chữa cháy được nghiên cứu tham khảo từ những tài liệu chuẩn của Nga, Singapore, … để đưa vào Điều 6.14. f) Trong Phụ lục A, A.3.1 có quy định về đảm bảo tính độc lập của các hệ thống bảo vệ chống cháy cho mỗi đơn nguyên hoặc mỗi khoang cháy. Nội dung này đã được tham khảo từ bản dự thảo của quy chuẩn nhà văn phòng và nhà đa năng do Viện KHCN Xây dựng thực hiện vào năm 2013. Tuy nhiên có điều chỉnh lại là các hệ thống đó phải hoạt động độc lập chứ không phải là các hệ thống độc lập. Về mặt kỹ thuật và vật chất, hệ thống bảo vệ chống cháy có thể chung cho toàn nhà nhưng hệ thống đó phải được thiết kế và đầu tư, phân chia để quản lý cho từng khu vực, từng khoang cháy và đảm bảo hoạt động độc lập giữa các khoang cháy đó.Ví dụ,với bơm chữa cháy có thể đầu tư một hoặc hai hệ thống bơm, song việc cấp nước chữa cháy vào từng khoang cháy phải là độc lập nhau, kể cả các đi theo tuyến ống độc lập nhau hoặc nếu là tuyến chung thì phải có các van điều khiển để khi vận hành bơm nước chỉ cung cấp đến đúng địa chỉ cần chữa cháy. Ngoài ra, tổ chức không gian và thoát nạn cũng được tổ chức độc lập nhau.

Chi tiết những thay đổi trong nội dung dự thảo quy chuẩn cũng như cơ sở để thực hiện điều chỉnh bổ sung những nội dung đó có thể tham khảo tại Phòng kỹ thuật -Viện TK BQP.

 

TS. Trịnh Thế Dũng

 



Gửi abc

Thảo luận về dự án: (0 Comments)