Trang chủ . Tin chuyên nghành

YẾU TỐ ĐỊA HÌNH TRONG QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ ĐÔ THỊ



Mỗi vùng đất đều có những đặc trưng riêng về địa hình. Sự đa dạng, phong phú của địa hình có ảnh hưởng đáng kể trong quy hoạch và thiết kế đô thị. Nó đòi hỏi người thiết kế cần quan tâm đúng mức trong việc phân tích, lợi dụng và cải tạo địa hình nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về kiến trúc cảnh quạn, kỹ thuật xây dựng và môI trường sinh thái.

 

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, tốc độ đô thị hóa cũng ngày một gia tăng và đã có những tác động tiêu cực đến điều kiện tự nhiên của mỗi vùng lãnh thổ. Trong khi đó, các biện pháp khắc phục lại kém hiệu quả đã dẫn đến những nguy cơ đe dọa sự phát triển bền vững của mỗi đô thị. Hệ thống đô thị Việt Nam phân bố trên khắp các vùng miền có địa hình đa dạng và thuộc các vùng địa lý khác nhau, nên việc lựa chọn hướng mở rộng đô thị thường gặp nhiều khó khăn. Trước nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, quỹ đất xây dựng được triệt để khai thác kể cả những khu vực có điều kiện tự nhiên không thuận lợi và những vùng cảnh quan thiên nhiên.

Để giảm bớt những yếu tố không có lợi của điều kiện tự nhiên nói chung và của địa hình nói riêng, các biện pháp thay đổi địa hình được sử dụng khá phổ biến. Các biện pháp này đã  mang lại hiệu quả cao trong việc làm tăng quỹ đất xây dựng nhưng cũng để lại không ít những tác động xấu đến môi trường sinh thái, làm mất đi tính đặc trưng của các vùng miền khác nhau và thậm chí còn  làm tổn hại đến kiến trúc cảnh quan đô thị.

Cảnh quan đô thị là hình thức thị giác của loại hình thái vật chất do môi trường đô thị và sinh hoạt đô thị cùng góp phần hình thành. Cảnh quan đô thị được cấu thành bởi cảnh quan tự nhiên, cảnh quan nhân tạo và cảnh quan hoạt động. Việc tổ chức tổng hợp và vận dụng một cách hợp lí ba loại cảnh quan nói trên trong thiết kế đô thị có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao hình ảnh đô thị và chất lượng môi trường đô thị. [2]

Cảnh quan tự nhiên là trạng trái điều kiện tự nhiên sẵn có của đô thị, đó là núi sông, mặt nước, địa hình, địa mạo, điều kiện khí hậu và những đặc trưng về diện mạo chịu ảnh hưởng của những  yếu tố tự nhiên. [2]

Bất cứ một đô thị nào cũng đều là sản phẩm của các điều kiện tự nhiên nhất định, đó cũng là căn cứ  và cơ sở để bố cục và phát triển đô thị. Các đặc trưng của địa hình như đỉnh núi có thể tạo nên tiêu điểm thị giác cấu thành cảnh quan đô thị, bờ sông rộng rãi có thể tạo nên những hình ảnh đẹp, thơ mộng cho cảnh quan đô thị. Cảnh quan tự nhiên mang lại cho hình ảnh đô thị những điều kiện thiên phú độc đáo và tạo cơ sở cho công tác quy hoạch, thiết kế đô thị. Trong quy hoạch và thiết kế đô thị nếu biết bảo tồn và lợi dụng các điều kiện tự nhiên chắc chắn sẽ tạo ra bộ mặt cảnh quan kiến trúc đẹp, hài hòa và làm tăng thêm sức sống cho thành phố tương lai.

Địa hình là yếu tố xác định trạng thái bề mặt của một khu vực đất đai nào đó, được đặc trưng bởi các thông số: hướng dốc, độ dốc, cao độ và hình dáng. Sự đa dạng của địa hình sẽ tạo cho mỗi đô thị có nét độc đáo riêng với cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo phong phú.

Cảnh quan hiện có của một khu đất là một trong số các đặc điểm của điều kiện tự nhiên mà trong đó đặc điểm địa hình giữ một vai trò quan trọng. Việc tạo lập hình ảnh cho mỗi đô thị có ảnh hưởng rõ nét của địa hình, nó ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp quy hoạch xây dựng nói chung và thiết kế đô thị nói riêng.

Chính vì vậy, trong quy hoạch và thiết kế đô thị, yếu tố địa hình cần phải được quan tâm xem xét một cách toàn diện và đúng mức từ bước phân tích, đánh giá đến khai thác, sử dụng và cải tạo, hoàn thiện.

 

1. Phân tích đánh giá địa hình tự nhiên

Phân tích và đánh giá các điều kiện tự nhiên trong quy hoạch xây dựng và thiết kế đô thị là một trong những cơ sở giúp các nhà thiết kế lựa chọn đất xây dựng và tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan đô thị. Trong đó việc phân tích đánh giá yếu tố địa hình tự nhiên là một nhiệm vụ quan trọng và cần được xem xét ở cả hai khía cạnh là kỹ thuật xây dựng và cảnh quan.

- Về kỹ thuật, cần đánh giá mức độ thuận lợi của điều kiện địa hình tự nhiên (chủ yếu là độ dốc) đối với công tác xây dựng đô thị và phân loại rõ:

Đất thuận lợi cho xây dựng có điều kiện thoả mãn yêu cầu xây dựng (độ dốc từ 0,4 đến 10%);

Đất ít thuận lợi cho xây dựng có điều kiện chưa đáp ứng ngay cho yêu cầu xây dựng (độ dốc <0,4% và từ 10 đến 20%, vùng núi đến 30%);

Đất không thuận lợi cho xây dựng có điều kiện phức tạp, không nên dùng vào mục đích xây dựng (độ dốc >20%, vùng núi >30%). [1]

 

- Về cảnh quan, cần phân tích, đánh giá các đặc điểm và tiềm năng cảnh quan của một khu đất bao gồm:

Đặc điểm về diện mạo của khu đất (địa hình bằng, địa hình dốc đều, địa hình bị chia cắt…)

Giới hạn phân chia địa hình bởi các đường phân lưu, tụ thủy (xem hình 1).

 

Hình 1. Phân tích đặc điểm địa hình khu đất quy hoạch xây dựng thành phố VạnTường. [3]

 

Các điểm cao, điểm thấp, tầm nhìn và hướng nhìn, các chướng ngại của địa hình tự nhiên.

Ảnh hướng của địa hình đến khả năng nhìn và cảm thụ không gian.

 

2. Khai thác và sử dụng địa hình

Việc khai thác và sử dụng địa hình một cách hợp lý, hiệu quả là một trong những nguyên tắc hàng đầu trong quy hoạch và thiết kế đô thị nhằm tổ chức một không gian đô thị hòa hợp với đặc điểm tự nhiên, với các mục tiêu cụ thể là giữ gìn và bảo đảm sự cân bằng tự nhiên; khai thác tối đa các tiềm năng sẵn có và hạn chế nhược điểm của khu vực; bảo vệ cảnh quan; bảo vệ môi trường; bảo tồn và tôn tạo các danh lam thắng cảnh có giá trị; phát triển hệ thống đô thị có quy mô và chất lượng cao.

Yếu tố địa hình cần được cân nhắc, xem xét trong các nội dung nghiên cứu cụ thể như phân khu chức năng; lựa chọn vị trí các công trình có tính chất là điếm nhấn kiến trúc; xác định trục không gian; tổ chức mạng lưới đường giao thông; sắp xếp bố trí các công trình kiến trúc; xác định mật độ xây dựng và tầng cao công trình; phân chia giai đoạn xây dựng…

Căn cứ kết quả phân tích và đánh giá địa hình, trong từng trường hợp khác nhau thì mức độ khai thác và sử dụng địa hình cũng khác nhau tùy thuộc yêu cầu xây dựng và đặc điểm địa hình. Ví dụ:

- Trường hợp địa hình có cấu trúc bề mặt độc đáo thì sẽ được giữ nguyên trong cảnh quan đô thị, hoặc ở đó hình thành khu bảo tồn thiên nhiên, khu cây xanh hay công viên rừng.

- Tận dụng chỗ thấp trũng tạo yếu tố cảnh quan mặt nước cho khu vực.

- Các công trình nên giảm dần chiều cao và mật độ xây dựng khi đến gần mặt nước.

- Lợi dụng cao độ địa hình để bố trí các công trình có tính chất là điểm nhấn kiến trúc.

- Bố trí các công trình song song với đường đồng mức theo chiều dài nhà.

- Sử dụng đường phân chia địa hình làm giới hạn phân khu chức năng hoặc phân chia giai đoạn xây dựng.

Phương án quy hoạch tổng mặt bằng được lập trên cơ sở khai thác và sử dụng những đặc trưng của địa hình khu đất sẽ mang lại sự phù hợp và hài hòa với địa hình tự nhiên nói riêng và môI trường sinh thái nói chung (xem hình 2)

 

Hình 2. Quy hoạch tổng mặt bằng phù hợp với địa hình tự  nhiên

 

3. Cải tạo địa hình

Cải tạo địa hình hay quy hoạch chiều cao nền khu đất xây dựng là nghiên cứu giải quyết chiều cao nền xây dựng của các công trình, các bộ phận đất đai đô thị. Mục đích của quy hoạch chiều cao là biến địa hình tự nhiên của khu đất đang ở dạng phức tạp thành những bề mặt hợp lý nhất nhằm đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật xây dựng và quy hoạch kiến trúc

Nhiệm vụ của quy hoạch chiều cao nền khu đất xây dựng là thiết kế cải tạo các điều kiện bất lợi của địa hình tự nhiên tạo bề mặt tương lai cho các bộ phận chức năng như đường giao thông, khu nhà ở, khu công nghiệp, khu cây xanh… nhằm đảm bảo các yêu cầu sau:

- Yêu cầu kỹ thuật: bảo đảm độ dốc và hướng dốc nền hợp lý để tổ chức thoát nước mưa tự chảy nhanh chóng không gây ngập úng làm ảnh hưởng đến các hoạt động của đô thị; bảo đảm an toàn, thuận tiện cho giao thông đô thị; tạo điều kiện thuận lợi cho xây dựng công trình ngầm và duy trì phát triển cây xanh trên khu đất xây dựng.

- Yêu cầu kiến trúc: góp phần tổ chức không gian, cảnh quan của đô thị, tăng giá trị thẩm mỹ trong kiến trúc, nghĩa là phải làm cho địa hình diễn đạt kiến trúc một cách đắc lực nhất.

- Yêu cầu sinh thái: không làm xấu đi các điều kiện thủy văn, địa chất công trình, địa chất thủy văn, hạn chế sự bào mòn đất và ảnh hưởng đến lớp thực vật; cố gắng giữ được trạng thái cân bằng tự nhiên có lợi cho điều kiện xây dựng.

Các nguyên tắc cần tuân thủ khi thiết kế quy hoạch chiều cao nền khu đất xây dựng là: triệt để lợi dụng điều kiện địa hình tự nhiên; bảo đảm sự cân bằng đào đắp với khối lượng công tác đất nhỏ nhất và cự ly vận chuyển đất ngắn nhất; nghiên cứu một cách toàn diện trên toàn bộ đất đai đô thị hoặc địa điểm xây dựng; được tiến hành theo các giai đoạn và phải đảm bảo giai đoạn sau tuân theo sự chỉ đạo của giai đoạn trước. [4]

Một số giải pháp có tính nguyên tắc khi cải tạo địa hình.

- Đối với khu vực trung du, đồi núi: Tôn trọng hình dáng địa hình tự nhiên, không nên thay đổi hướng dốc nền tự nhiên, xác định độ dốc thích hợp xây dựng công trình. Phân chia các cấp nền đảm bảo độ dốc hợp lý. Tạo mối liên hệ thềm bậc đảm bảo ổn định cho mái dốc, kết hợp hài hoà giữa nền đường và nền các công trình xây dựng khác đảm bảo mỹ quan

- Đối với khu vực đồng bằng: Việc xác định cao độ nền khu đất xây dựng phải  gắn liền với các biện pháp bảo vệ khu đất xây dựng khỏi ngập lụt (đắp đê, tôn nền, tăng cường khả năng thoát lũ, điều chỉnh lưu lượng lũ). Thiết kế các bề mặt địa hình với  độ dốc hợp lý đảm đảm bảo thuận lợi cho thoát nước mặt tự chảy. Gia cố các khu vực ven bờ để tránh sạt lở. Tạo lập các đặc trưng của yếu tố địa hình (đồi núi, suối, hồ… nhân tạo) mang lại hình ảnh gần gũi với tự nhiên.

Như vậy có thể thấy địa hình là một trong các yếu tố tạo lập không gian và cảnh quan cho khu vực xây dựng. Trong quy hoạch và thiết kế đô thị  yếu tố địa hình phải được phân tích đánh giá, khai thác sử dụng và cải tạo có hiệu quả thông qua việc giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa địa hình tự nhiên với  quy hoạch tổng mặt bằng và quy hoạch chiều cao nền các bộ phận chức năng.

 

Hình 3. Quy hoạch chiều cao nền khu đất xây dựng [4]

 

 

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Xây dựng – Quy hoạch xây dựng đô thị – TCVN 4449-1987.

2. Kim Quảng Quân - Thiết kế Đô thị có minh hoạ, Người dịch: Đặng Thái Hoàng, NXB Xây Dựng, 2000.

3. Nikken Sekkei Civil Engineering LTD & Đại học Kiến trúc Hà Nội -  Điều chỉnh quy hoạch thành phố Vạn Tường – Quảng Ngãi.

4. Trần Thị Hường - Chuẩn bị kỹ thuật cho khu đất xây dựng Đô thị, NXB Xây dựng 1995

 

Nguyễn Thị Hồng Vân - Vũ Hoàng Điệp

 

 



Gửi abc

Thảo luận về dự án: (0 Comments)