Trang chủ . Tin chuyên nghành

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG QUY HOẠCH XÂY DỰNG HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐIỂM DÂN CƯ NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG



Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 193/QĐ-TTg, ngày 02/02/2010, đã  xác định mục tiêu cho công tác quy hoạch xây dựng nông thôn là làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Để đáp ứng được mục tiêu trên, công tác quy hoạch xây dựng nông thôn nói chung và quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng cần có những giải pháp có tính định hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế của từng vùng.

 

Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) là một châu thổ hình tam giác cân rộng lớn bao gồm 2 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và 8 tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định với tổng diện tích tự nhiên là 14.945,8km2. ĐBSH có địa hình khá bằng phẳng, được kiến tạo bởi kết quả bồi đắp phù sa của sông Hồng và một số sông khác; nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa; khí hậu toàn vùng khá đồng nhất, nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 23oC, lượng mưa trung bình năm là 1.730,7mm; có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc. Dân số toàn vùng là 18.651.700 người, mật độ cư trú trung bình 1.258 người/km2,  ĐBSH là khu vực có lịch sử lâu đời, hệ thống đô thị đã hình thành và phát triển. Mặc dù vậy dân số nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ khá cao. Khu vực nông thôn ĐBSH chiếm một tỷ trọng rất lớn về diện tích và dân số, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của miền Bắc và cả nước.

 

Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật điểm dân cư nông thôn bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải, nghĩa trang và các công trình khác. Đối với khu vực ĐBSH, do đặc điểm phân bố dân cư và điều kiện kinh tế nên công tác quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng có những lợi thế nhất định. Tổng hợp, đánh giá thực tế công tác xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn trong những năm qua đã cho thấy một số giải pháp định hướng có thể áp dụng phù hợp đối với vùng ĐBSH.

 

1. Quy hoạch giao thông

 

Mạng lưới đường giao thông điểm dân cư nông thôn bao gồm: đường từ huyện đến xã; đường liên xã; đường từ xã xuống thôn; đường ngõ, xóm; đường từ thôn ra cánh đồng. Đối tượng phục vụ chủ yếu của giao thông vận tải trên địa bàn xã là các hoạt động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ, phân tán, chủ yếu theo hộ gia đình. Vận tải trên địa bàn xã thường là vận chuyển nội bộ, với cự ly ngắn và có tính thời vụ. Do đặc tính sản xuất phân tán theo hộ gia đình, nên đường làng ngõ xóm đều cần được mở rộng để xe cơ giới bốn bánh có thể vào tận nhà. Đây là yếu tố quan trọng có tác dụng thúc đẩy các hoạt động kinh tế và cải thiện điều kiện xã hội ở các làng xã truyền thống trong khu vực ĐBSH.

 

Đường giao thông trong các làng xã nhìn chung là đã được hình thành từ lâu, đủ về tuyến nhưng chưa hoàn chỉnh về mạng lưới và chất lượng cũng chưa đảm bảo. Về cơ bản nên tận dụng các tuyến đường hiện có, cải thiện những đoạn chưa hợp lý và bổ sung cục bộ cho các khu còn thiếu hoặc cho các khu dãn dân. Khi tận dụng đường tỉnh, đường huyện làm đường trục làng xã hay làm đường nối các điểm dân cư, cần chú ý đến việc đảm bảo thông xe và và an toàn giao thông. Để tránh tình trạng ách tắc xe cộ vào giai đoạn cao điểm mùa vụ, cần xây dựng thêm các điểm dừng đỗ, tránh xe cho các loại xe máy nông nghiệp.

 

Đ­ường từ huyện đến xã, liên xã, đ­ường từ xã xuống thôn là những tuyến đường chính của làng xã. Trên những trục đường này thường bố trí trụ sở cơ quan xã, các công trình công cộng như trường học, nhà trẻ, trạm y tế, công trình văn hóa thể thao, chợ, cửa hàng dịch vụ... Đường chính làng xã cần đáp ứng tốt yêu cầu giao thông cũng như bố trí mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật. Mặt khác, các công trình công cộng và nhà dân trên các trục đường này cần được tổ chức không gian và lựa chọn hình thức kiến trúc phù hợp để tạo bộ mặt và vẻ đẹp đặc trưng của làng xã. Chiều rộng mặt cắt ngang mỗi tuyến đường làng xã bao gồm: phần lòng đường dành cho việc đi lại, vận chuyển và phần lề đường để có thể bố trí cột điện, đường ống cấp nước, rãnh thoát nước và đất dự trữ mở rộng. Các chỉ tiêu kỹ thuật  cần đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường ôtô cấp VI  đ­ược quy định trong TCVN 4054-2005: l­ưu l­ượng xe thiết kế  d­ưới 200xqđtc/ngđ; tốc độ thiết kế 30km/h; chiều rộng phần xe chạy giành cho xe cơ giới ≥  3,5m/làn xe; chiều rộng lề và lề gia cố ≥1,5m; chiều rộng mặt cắt ngang đư­ờng ≥ 6,5 m;

 

Đường ngõ xóm, đường từ thôn ra cánh đồng  phải đáp ứng yêu cầu phục vụ cho cơ giới hóa nông nghiệp, sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới nhẹ hoặc phương tiện giao thông thô sơ. Đ­ường trục chính nội đồng đ­ược bố trí phù hợp với hệ thống kênh m­ương thuỷ lợi. Các tiêu chuẩn kỹ thuật phải phù hợp với quy định trong tiêu chuẩn 22 TCN 210: 1992 - Đ­ường giao thông nông thôn, chiều rộng mặt đ­ường tối thiểu là 3,0m. Kết cấu mặt đ­ường được áp dụng các hình thức kết cấu mặt đ­ường bê tông xi măng hoặc đá dăm, hoặc lát gạch, cát sỏi trộn xi măng..., chú ý tận dụng triệt để vật liệu địa phương.

 

Các tuyến đường làng xã cũng cần thiết phải xác định chiều rộng lưu không nhằm đảm bảo giao thông thuận tiện, đảm bảo có hành lang đất dành cho các công trình hạ tầng kỹ thuật, đảm bảo sự thông thoáng và tỷ lệ hài hoà với kiến trúc nhà ở, tạo cơ sở cải thiện tiện nghi và chất lượng sống. Do vậy chỉ giới xây dựng dọc các tuyến đường cũng cần được quy định rõ và cần được tôn trọng như trong đô thị. Việc xác định lưu không của mỗi con đường là để biết phạm vi xây dựng nhà ở và công trình mới, tránh việc phải phá dỡ khi cần mở rộng đường. Hiện tại, các làng truyền thống có mật độ nhà cửa cao, vẫn phải tạm thời chấp nhận thực trạng đường xá quá hẹp, nhưng quy định rõ chỉ giới xây dựng trong trường hợp này vẫn có tác dụng thực hiện khi các hộ cải tạo, xây cất lại nhà dọc theo con đường. Ngoài ra, việc xác định chiều rộng lưu không của mạng lưới đường làng xã là để có đất dự phòng phát triển, còn việc làm mặt đường cần phân đợt, tùy theo nhu cầu và khả năng của địa phương.

 

Bãi đỗ xe cơ giới nên bố trí ở trung tâm xã, gần chợ nên và kiêm luôn chức năng điểm đỗ xe khách nông thôn.

 

2. Quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật  

 

Vùng ĐBSH có hệ thống đê bao dọc các dòng sông được hình thành từ lâu đời, nên về cơ bản đã được bảo vệ khỏi ngập lụt. Nhưng do địa hình bằng phẳng, thấp, trên các cánh đồng cần giữ nước tưới nông nghiệp nên các điểm dân cư vẫn phải tôn cao nền để xây dựng. Cao độ nền xây dựng được xác định căn cứ theo năng lực và chế độ hoạt động của hệ thống tưới, tiêu thủy lợi đảm bảo cho khu đất xây dựng không bị ngập ứng.

 

Quy hoạch chiều cao (san đắp nền) cần tận dụng địa hình tự nhiên, hạn chế khối lượng đất san lấp, bảo vệ cây lưu niên, lớp đất mầu; tạo hướng dốc ra phía các hồ ao và kênh tiêu; chỉ tiến hành san đắp nền khi đã xác định vị trí quy hoạch xây dựng công trình và đồng bộ với quy hoạch thoát nước mưa.

 

Quy hoạch thoát nước mưa phải phù hợp với hệ thống tiêu thuỷ lợi. Tận dụng tối đa hệ thống ao hồ kênh mương và các công trình chứa nước, các công trình thấm để điều hòa dòng chảy, giảm kích thước tiết diện thoát nước. Tùy theo điều kiện kinh tế và môi trường tại địa phương, có thể kết hợp sử dụng các hình thức cống kín, mương rãnh hở được xây dựng và cải tạo đồng bộ với các tuyến đường giao thông. Đối với sông suối chảy qua khu vực dân cư, cần cải tạo, gia cố bờ, chống sạt lở.

 

3. Quy hoạch cấp nước

 

Vấn đề cấp nước sạch đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Nhiều địa phương đã có dự án cấp nước sạch nhưng do việc đầu tư dàn trải dẫn đến tình trạng nhiều trạm cấp nước xây xong mà người dân vẫn không có nước sạch để dùng do thiếu đường ống dẫn về nhà. Cũng có điểm dân cư được đầu tư đầy đủ nhưng lại không thu đủ kinh phí phục vụ vận hành hệ thống.

 

Vùng ĐBSH là khu vực đông dân cư, đặc điểm quần cư theo làng xóm cũng khá tập trung, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho việc quy hoạch xây dựng hệ thống cấp nước tập trung, mặt khác cũng có điều kiện có thể huy động vốn đầu tư dễ dàng hơn. Tuỳ theo khu vực mà quy hoạch xây dựng hệ thống cấp nước theo thôn, xã hay một nhóm dân cư. Khai thác nguồn nước ngầm hoặc nguồn nước mặt ở các sông lớn, không nên sử dụng nguồn nước mặt ở các sông nội đồng. Chấm dứt việc khoan giếng nước tràn lan như hiện nay vừa tốn kém và sẽ nguy hiểm cho môi trường trong tương lai là nguồn nước ngầm sẽ bị ô nhiễm. Giải pháp tối ưu vẫn là xây dựng các nhà máy nước công suất nhỏ phục vụ cho từng cụm 2000-5000 dân, đối với những cụm lẻ, phân tán hoặc phục vụ một công trình nên dùng giếng khoan kiểu UNICEF lắp máy bơm tay, hoặc máy bơm điện.  Quy hoạch mạng lưới đường ống cấp hoàn chỉnh đến từng hộ dùng nước, hạn chế sử dụng vòi công cộng. Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt lấy từ 60-80lít/người.ngày. Hệ thống cấp nước có thể tính toán theo chế độ hoạt động có sử dụng các bể dự trữ trong từng hộ tiêu thụ, không nhất thiết phải xây dựng đài nước.

 

Cần khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn theo hình thức BOT hoặc các hình thức đầu tư khác, nhưng được hưởng các chế độ ưu đãi về thuế, vật tư thiết bị ngành nước... tránh tình trạng đầu tư nửa vời không hiệu quả.

 

4. Quy hoạch thoát nước thải và vệ sinh môi trường

 

Để bảo đảm phát triển bền vững, việc bảo vệ môi trường ở các khu dân cư nông thôn ĐBSH cần quy hoạch mạng lưới thoát nước một cách toàn diện (tất cả các loại nước bẩn, nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất, nước thải từ chuồng trại chăn nuôi, đều phải được tập trung để xử lý, v.v...). Tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể dùng hệ thống thoát chung, riêng rẽ hoặc bán riêng rẽ. Quy hoạch mạng lưới cống rãnh thoát nước phải kết hợp chặt chẽ với mạng lưới đường giao thông.

 

Các hộ có vườn tược hay ao hồ thì nên thu nước thải vào hố thu gom rồi để lắng và phân huỷ sinh học. Sau đó cho chảy xuống ao hồ để nuôi cá, trồng rau nước hoặc tưới vườn (theo mô hình VAC). Các hộ không có vườn tược hoặc ao hồ thì tập trung nước thải theo hệ thống cống rãnh từ trong nhà chảy ra cống rãnh của thôn xóm. Bên ngoài khuôn viên hộ gia đình phải xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước để dẫn nước (từ các gia đình) dẫn vào bể lắng để xử lý sơ bộ, rồi tiếp tục cho chảy vào ao hồ chung của thôn xóm, làng xã. Trước khi xả ra hệ thống sông hồ hoặc hệ thống thủy nông, nước thải được xử lý theo phương pháp hồ sinh học, chú ý tận dụng các ao hồ hiện có.Trường hợp sử dụng hệ thống cống chung, cần quy hoạch các tuyến cống bao và các giếng tách nước đảm bảo thu gom và dẫn nước thải đến khu xử lý. Mạng lưới thoát nước phải sử dụng cống rãnh kín để dẫn nước thải.

 

Quy hoạch về quản lý (thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải) một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, chất thải rắn từ hộ gia đình phải được phân loại, thu gom và xử lý. Chất thải hữu cơ dùng cho chăn nuôi gia súc; xử lý bằng cách chôn lấp cùng với phân gia súc trong đất ruộng, vườn để làm phân bón cho nông nghiệp; chất thải vô cơ: xử lý tập trung (tái chế, chôn lấp…). Các chất thải vô cơ từ các hộ gia đình phải được thu gom từ các thôn tới các điểm tập kết, trạm trung chuyển và vận chuyển tới khu xử lý chất thải rắn tập trung của xã hoặc cụm xã. Mỗi thôn có một điểm tập kết, trạm trung chuyển, khoảng cách ly vệ sinh ≥ 20m.

 

Tuyên truyền, vận động và hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng hố xí dội nước (tự hoại) cũng như việc sử dụng chuồng trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo yêu cầu vệ sinh. Tích cực phát triển hầm biogas để giải quyết việc thiếu nhiên liệu đốt bằng cách tận dụng triệt để lượng phân rác từ trồng trọt, chăn nuôi, sinh hoạt gia đình để bảo đảm vệ sinh.

 

5. Quy hoạch cấp điện

 

Hệ thống cung cấp điện được thiết kế căn cứ vào quy mô dân số và yêu cầu sản xuất. Quy hoạch tuyến điện phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch giao thông và kiến trúc đảm bảo đưa lưới điện quốc gia đến từng hộ tiêu thụ.

 

Nguồn điện cung cấp cho các điểm dân cư nông thôn là lưới điện trung thế khu vực. mỗi điểm dân cần có ít nhất một trạm hạ thế, vị trí trạm điện hạ thế phải đặt ở trung tâm của phụ tải điện, hoặc ở gần phụ tải điện lớn nhất, tại vị trí thuận tiện cho việc đặt đường dây, ít cắt đường giao thông, không gây trở ngại, nguy hiểm cho sản xuất, sinh hoạt.

 

Lưới điện hạ thế cơ bản vẫn sử dụng dây dẫn đi trên cột theo sơ đồ nối thông liên tiếp, các tuyến cáp trục chính sử dụng cáp 3 pha 4 dây đi theo các tuyến đường chính làng xóm.. Tuy nhiên cần hạn chế bán kính phục vụ và thay thế dần các cột điện không đủ độ an toàn bằng cột bê tông cốt thép nhằm giảm tổn thất điện năng và đảm bảo an toàn vận hành. Lưới điện chiếu sáng đường sử dụng bóng treo trên cột chung với dây hạ thế. Lưới điện phục vụ sản xuất phải thiết kế dựa theo các yêu cầu cụ thể của từng cơ sở sản xuất. Không để đường dây điện đi qua nơi chứa chất dễ cháy, dễ nổ.

 

Ảnh minh họa

 

 

 

Nguyễn Thị Hồng Vân - Vũ Hoàng Điệp

 

 



Gửi abc

Thảo luận về dự án: (0 Comments)