Trang chủ . Tin chuyên nghành

ĐỊA HÌNH ĐỒI Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC ĐÔ THỊ TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN



Tóm tắt

 

Địa hình dạng đồi ở Việt Nam (đồi trung du, đồi cao nguyên, đồi duyên hải), với những đặc điểm chung về cao độ, độ dốc và những đặc điểm riêng về phân bố, có những thuận lợi (về cảnh quan, khí hậu, địa chất... ) và những khó khăn nhất định (về độ dốc, sự chia cắt...) đối với sự hình thành và phát triển các đô thị. Bài viết phân tích tổng hợp về ảnh hưởng của địa hình đồi đến quy hoạch đô thị; các tiến trình cải tạo điều kiện tự nhiên và những đặc điểm trong quá trình hình thành, phát triển các đô thị có địa hình dạng đồi ở Việt Nam.  

 

1. Đặt vấn đề

 

Hệ thống đô thị Việt Nam phân bố trên khắp các vùng miền có địa hình đa dạng và thuộc các vùng địa lý khác nhau. Sự đa dạng của hình thái địa hình sẽ tạo cho mỗi đô thị có nét độc đáo riêng với cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo phong phú. Địa hình trong cách phân loại theo hình thái và trắc lượng – hình thái được chia ra thành ba loại cơ bản là đồng bằng, đồi và núi.

Trong số các dạng địa hình theo cách phân loại trên, có thể nhận thấy địa hình đồng bằng ít ảnh hưởng đến các giải pháp quy hoạch đô thị (QHĐT), ngược lại địa hình núi có tác động chi phối mạnh mẽ đến các giải pháp QHĐT, chỉ có địa hình dạng đồi là có những tác động qua lại rõ nét nhất với các giải pháp QHĐT.

 

2. Đặc điểm địa hình đồi ở Việt Nam

 

Đặc điểm của loại địa hình đồi là có độ chênh cao rõ rệt, độ dốc tương đối lớn, xen kẽ các thung lũng, có mương xói nhưng không lớn lắm, cảnh quan thiên nhiên phong phú. Nếu có giải pháp quy hoạch hợp lý thì loại địa hình này không gây khó khăn lớn trong xây dựng đô thị. Việc tổ chức thoát nước theo nguyên tắc tự chảy khá thuận tiện. Ở Việt Nam, địa hình đồi có các loại đặc trưng là đồi trung du, đồi cao nguyên và đồi duyên hải với những đặc điểm khác nhau tác động đến QHĐT.

 

a. Đồi Trung du

 

Vùng Trung du phổ biến là dạng đồi tròn bát úp đỉnh bằng, sườn thoải trên nền đồng bằng, mật độ đồi tăng dần về phía núi. Khó khăn là những đồi thấp thì kích thước nhỏ và rất phân tán, những đồi lớn mật độ dày thì độ dốc lớn và cao, xen kẽ là các lũng đồi, đáy phẳng và thấp có khả năng bị ngập úng khi mưa. Một số đô thị địa hình đồi trên nền đồng bằng trũng thấp cạnh sông có đê bảo vệ nên việc thoát nước khó khăn hơn phải dùng trạm bơm hoặc cống điều tiết. Nguồn cung cấp nước mặt khá phong phú tại các sông, nhưng có sự thay đổi về lưu lượng và độ đục theo mùa

Hình 1. Địa hình đồi trung du

 

b. Đồi Cao nguyên

 

Trên cao nguyên phổ biến là dạng đồi lượn sóng đỉnh bằng với các sống đồi nối tiếp liên tục, bị chia cắt bởi các sông suối nhỏ. Nền đất xây dựng tốt và đồng đều, độ dốc thoải, quỹ đất phong phú, khí hậu ôn hoà quanh năm, cảnh quan thiên nhiên đẹp. Địa hình rất thuận lợi cho quy hoạch các tuyến đường bộ dọc theo sống đồi nằm trên gần đường phân thuỷ, dễ thoát nước, chỉ những đoạn vượt sông, suối là khó khăn do có độ dốc lớn, dạng hẻm vực nhưng không chiếm nhiều diện tích. Khó khăn trong xây dựng đô thị trên cao nguyên là thiếu nước trong mùa khô, nguồn nước mặt có nhưng không phong phú, muốn khai thác phải có công trình ngăn đập, nguồn nước ngầm nằm sâu và không lớn. Địa hình cho phép thoát nước dễ dàng xuống các sông suối nhưng nếu không được kiểm soát và xử lý sẽ dẫn đến có nguy cơ gây ô nhiễm trực tiếp cho khu dân cư trong đô thị và các vùng dân cư nằm dưới hạ lưu

 

Hình 2. Địa hình đồi cao nguyên

 

c. Đồi Duyên hải

 

Đồi duyên hải có những đặc điểm cơ bản giống đồi trung du nhưng mật độ đồi lớn hơn do nằm sát với địa hình núi, các thung lũng không rõ ràng mà chỉ là những mương xói chia cắt địa hình có hướng chảy thẳng ra biển, tiếp giáp có thể là đồng bằng nhỏ hẹp rồi đến các bãi triều. Quỹ đất xây dựng rất hạn chế, đô thị chỉ phát triển thuận lợi theo hướng chạy dọc biển, khai thác đất đồng bằng nếu có hoặc lấn biển tại các bãi triều. Nguồn nước mặt có thể khai thác từ các hồ đập trên núi

 

Hình 3. Địa hình đồi duyên hải

 

3. Các tiến trình cải tạo tự nhiên trên vùng đồi núi trong quá trình hình thành, phát triển các điểm dân cư và đô thị

 

Lịch sử phát triển các điểm dân cư và đô thị Việt Nam gắn liền với quá trình cải tạo tự nhiên mở mang đất đai, khai thác tài nguyên. Khai phá và cải tạo đồng bằng để phát triển nông nghiệp được tiến hành sớm nhất, chỉ đến cuối thế kỷ 19 thì mới có những tác động mới đến vùng đồi núi để khai thác, phát triển, các ngành kinh tế khác như khai thác khoáng, xây dựng công nghiệp, phát triển giao thông... Có thể kể đến một số tiến trình cải tạo điển hình diễn ra ở vùng địa hình đồi núi như sau:

 

- Xây đập dâng, xây dựng kênh tưới trên các dòng sông vùng trung du để dẫn về tưới cho đồng bằng. Những công trình thuỷ lợi lớn như Thác Huống (hình 4), Núi Cốc, Đại Lải, Bái Thuợng, Nam Đàn, Kẻ Gỗ, Phù Ninh, Thạch Nham... và nhiều đập nhỏ phục vụ cho vùng đồng bằng hẹp miền Trung

 

Hình 4. Đập Thác Huống trên sông Cầu thuộc địa bàn thành phố Thái Nguyên

 

- Xây dựng hồ chứa nhỏ và  đắp đê khu vực trên vùng đồi trung du để bổ sung nguồn nước cho mùa khô và ngăn lũ trong mùa mưa bảo vệ các khu vực  bên trong đê (hình 5).

 

Hình 5. Hồ chứa nhỏ và đê sông Lô trong địa bàn xã
Phượng Lâu - TP Việt Trì

 

- Xây dựng hồ thủy lợi, thủy điện lớn, nhỏ trên vùng đồi núi như Thác Bà, Hòa Bình, Trị An... Những công trình này ít nhiều biển đổi lớn đến chế độ dòng chảy, quỹ đất lòng hồ, hệ sinh thái... Bên cạnh những yếu tố thuận lợi như tạo thêm nguồn điện, nguồn nước, giảm lũ nhưng chúng cũng có ảnh hưởng lớn đến đời sống của dân cư vùng hồ.

 

- Khai thác khoáng sản làm biến đổi địa hình (hình 6). Các khu mỏ Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cam Đường, Cao Bằng đều nằm trên địa hình chia cắt mạnh. Đất thải của mỏ đều thải ra các thung lũng hoặc ven biển. Việc ảnh hưởng trực tiếp nhất là quỹ đất canh tác bị thu hẹp, nguồn nước và đất xây dựng trong phạm vi khu ở chịu ảnh hưởng lớn.

 

Hình 6. Khai thác quặng làm biến đổi địa hình ở mỏ Trại Cau (Thái Nguyên)

 

Có thể nhận thấy, các biện pháp cải tạo tự nhiên nêu trên đã làm biến đổi và  hạn chế những yếu tố bất lợi , tạo yếu  tố thuận lợi cho phát triển kinh tế là chủ yếu nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các điểm dân cư và đô thị.

 

4. Tác động của địa hình đồi đến các đô thị trong quá trình hình thành và phát triển.

 

4.1. Đắc điểm trong quá trình hình thành và phát triển các đô thị trên các vùng địa hình đồi.

 

Dưới tác động của địa hình dạng đồi, sự hình thành và phát triển các đô thị ở Việt Nam đã cho thấy những đặc điểm gắn liền với việc lợi dụng địa hình tự nhiên cũng như tiến trình cải tạo địa hình trên các vùng đồi như sau:

 

a. Trên vùng đồi trung du và đồi duyên hải.

 

- Dân cư phân bố theo mật độ đồi. Dọc theo các chân đồi tròn, thấp nằm phân tán trên vùng trung du không bị ngập là điều kiện thuận lợi nhất để hình thành các điểm dân cư và đô thị

 

Hình 6. Thị xã Phú Thọ hình thành trên hai quả đồi sát sông và phát triển phân tán

 

- Đô thị hình thành trên đồi thấp sát sông và phát triển phân tán (hình 6). Đồi thấp ven sông, ven biển là nơi thuận lợi hình thành bến cảng và đô thị. Khi phát triển công nghiệp, phát triển mở rộng đô thị đều phải phân tán trên các dải đồi dọc theo sông (Việt Trì, Phú Thọ, Thái Nguyên), dải đồi ven biển (Hạ Long).

 

b. Trên vùng đồi cao nguyên

 

- Các điểm dân cư phân bố trên sống đồi bằng. Vùng cao nguyên và thềm phù sa cổ Miền Đông Nam bộ, địa hình dạng đồi thấp, thoải rất thuận lợi cho các tuyến giao thông đi trên sống đồi là cơ sở để hình thành nên các điểm dân cư tập trung.

 

- Đô thị hình thành ở trung tâm hội tụ các sống đồi. Các điểm dân cư thường hình thành trên sống đồi gần các sông suối có dòng chảy cả về mùa cạn là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển đô thị.

 

- Hướng phát triển đô thị theo các hướng đồi. Tại trung tâm hội tụ của các sống đồi như Đà Lạt, Bảo Lộc, Buôn Ma Thuột, Kontum, Bình Long, Phước Long... hình thành các đô thị và phát triển đều theo các hướng đồi.

 

 

Hình 8. Đô thị Đà Lạt hình thành tại nơi hội tụ của các sống đồi

 

4.2. Ảnh hưởng của địa hình đồi đối với các điểm dân cư và đô thị

 

Qua các đặc điểm của địa hình dạng đồi; quá trình hình thành phát triển các điểm dân cư và đô thị, có thể rút ra được được những ảnh hưởng có tính quy luật của địa hình đối với các điểm dân cư và đô thị như sau:

 

- Ảnh hưởng đến sự hình thành điểm tập trung dân cư và đô thị. Điều kiện địa hình và nguồn nước có ảnh hưởng rõ nét đến vị trí, dạng phân bố các điểm dân cư và đô thị ở Việt Nam. Vị trí điểm dân cư hình thành ở chân đồi ven thung lũng gần các dòng suối; trên đồi thấp trung du có nguồn nước ngầm mạch nông. Dạng phân bố dân cư trên vùng địa hình đồi có các dạng điển hình như phân bố theo thung lũng có dòng chảy mùa cạn, theo dạng phân bố đồi có nguồn nước mạch nông, theo sống đồi bằng bên các con suối có dòng chảy mùa cạn.

- Ảnh hưởng đến hình thái đô thị. Tùy thuộc khả năng phát triển giao thông, các đô thị vùng địa hình đồi được hình thành trên nhiều kiểu hình thái tự nhiên như đô thị trong thung lũng bồn địa; đô thị tại nơi hội tụ của các sống đồi bằng; đô thị trên đồi thấp, sát sông vùng trung du...

- Ảnh hưởng đến mô hình phát triển đô thị. Điều kiện địa hình tự nhiên có tác dụng quyết định đến nhiều hình dáng đô thị Việt Nam điển hình như dạng phân tán theo trục trên vùng núi địa hình chia cắt mạnh (Yên Bái, Tuyên Quang, Lai Châu...); dạng phân tán theo diện (Việt Trì, Thái Nguyên...); dạng chuỗi đô thị (Uông Bí, Chí Linh, Hạ Long, Cẩm Phả...); dạng hình tia (Đà Lạt, Buôn Ma Thuột).

 

Hình 9. Hình dáng đô thị Việt Trì có dạng phân tán do chịu ảnh hưởng của địa hình

 

Kết luận

Dưới tác động của YTĐH và các yếu tố khác cũng như các tiến trình cải tạo tự nhiên, các đô thị có địa hình dạng đồi ở Việt Nam hình thành và phát triển mang những nét đặc trưng gắn liền với việc lợi dụng địa hình và các giải pháp cải tạo địa hình. Đặc điểm địa hình đồi ở Việt Nam có ảnh hưởng rõ nét đến việc chọn vị trí cũng như phân bố các điểm dân cư và đô thị; đến hình thái đô thị theo các kiểu địa hình tự nhiên và đến hình dáng phát triển của mỗi đô thị.

 

ThS. Vũ Hoàng Điệp - Nguyễn Thị Hồng Vân

 

Tài liệu tham khảo

  1. Doãn Quốc Khoa (2008),  Cơ sở “Cảnh quan học” của khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam,  Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ - Bộ Xây dựng.
  2. Vũ Tự Lập (2007), Địa lý tự nhiên Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm.
  3. Đỗ Đình Nguyên (1990), Tác động của điều kiện tự nhiên đến hình thái phân bố dân cư các điểm dân cư đô thị, nông thôn trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam, Đề tài 28A-01-04.

 

 

 

 

 

 



Gửi abc

Thảo luận về dự án: (0 Comments)