Trang chủ . Tin chuyên nghành

Yếu tố địa hình trong thực tiễn quy hoạch đô thị ở Việt Nam



1. Đô thị Việt Nam trước năm 1954

 

Ở Việt Nam, dưới thời phong kiến, các đô thị ra đời muộn và có quy mô nhỏ, YTĐH (đặc biệt là địa thế có tính quốc phòng) cùng với lý luận về phong thủy có tác động rõ nét đến việc lựa chọn vị trí và tổ chức XDĐT. Thực tiễn QHĐT trong giai đoạn này cũng đã cho thấy các tiêu chí về ĐKTN trong đó chủ yếu là yếu tố địa hình được ứng dụng rộng rãi trong việc chọn địa điểm và tổ chức xây dựng. Có thể nhận thấy rõ những tác động của địa hình qua việc chọn vị trí có thế hiểm để phòng thủ (Hoa Lư); chọn thế đất cao tránh ngập lụt (Thăng Long, Liên Lâu, Phú Xuân, Vinh); lợi dụng thế núi, đồi, gò để xây thành, đắp lũy (Cổ Loa, Hoa Lư); lợi dụng sông làm ngoại hào bảo vệ (Lạng Sơn, Cổ Loa, Phú Xuân); việc vận dụng thuyết Phong thuỷ không máy móc dập khuôn mà có sự phù hợp với điều kiện thực tế địa hình (Thăng Long, Phú Xuân); tôn nền vùng trũng thấp để mở rộng đô thị, cải tạo sông nhánh (Thăng Long, Phú Xuân).

 

Đến thời Pháp thuộc, trên cơ sở các địa danh có đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho QHĐT như vị trí, tài nguyên khoáng sản, phong cảnh đẹp... thực dân Pháp đã xây dựng và cải tạo một loạt các đô thị. Việc QHĐT hoàn toàn do người Pháp thực hiện và thuần tuý sử dụng lý luận của phương Tây nhưng có sự kết hợp tốt giữa công trình nhân tạo với các YTTN trong đó có địa hình. Các đồ án QHĐT của người Pháp đã cho thấy việc khai thác hợp lý YTĐH, điển hình là đô thị Đà Lạt. Khi khám phá vùng cao nguyên, ban đầu người Pháp lập một vài cơ sở thí nghiệm tại Dankia nhưng sau đó quyết định chuyển về Đà Lạt để thiết lập nơi nghỉ mát do những đặc điểm nổi trội của địa hình đồi nơi đây ”Đà Lạt là nơi có địa thế liên tục của một chuỗi đất dài có độ dốc thoai thoải, dễ tới trong khi Dankia gồm một loạt những đồi nhỏ cách biệt nhau bằng những thung lũng lầy lội”. Trong QHĐT Đà Lạt, các đỉnh đồi được chọn lựa để xây dựng những công trình tôn giáo, dinh thự uy nghiêm và trang trọng; các tòa biệt thự  theo sát đường đồng mức, mật độ xây dựng thấp, diện tích phân lô rất lớn; các khu vực đất thấp dưới các thung lũng lớn được bố trí cho khu vực dân cư làm nông nghiệp. Qua việc chọn vị trí và QHĐT, có thể thấy YTĐH cùng với kiến trúc và khí hậu nơi đây đóng vai trò quyết định để hình thành sắc thái đô thị Đà Lạt với những giá trị bền vững.

 

Ở Việt Nam, cho đến trước năm 1954, yêu cầu xây dựng đô thị chưa đòi hỏi quy mô lớn, các giải pháp QHĐT cũng cơ bản là lựa theo ĐKTN nói chung và YTĐH nói riêng, công tác CBKT khu đất xây dựng đô thị cũng chỉ tiến hành những biện pháp chung trong phạm vi nhỏ.

 

2. Đô thị Việt Nam sau năm 1954

 

Từ sau năm 1954 cho đến những năm gần đây, qua tình hình QHĐT tại các đô thị có địa hình đồi ở Việt Nam có thể nhận thấy những đặc điểm thuận lợi của YTĐH cũng đã được khai thác trong QHĐT thông qua những giải pháp hợp lý về lựa chọn đất xây dựng, về định hướng mô hình và hướng phát triển không gian, về định hướng phát triển HTKT đô thị. Những bất lợi của địa hình cũng được định hướng cải tạo nhằm tạo bề mặt tương lai đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị.

 

Tuy nhiên, cũng còn  nhiều những bất cập liên quan đến việc lựa chọn giải pháp QHĐT chưa phù hợp với địa hình hoặc công tác quản lý xây dựng chưa được tuân thủ chặt chẽ theo định hướng quy hoạch dẫn đến những tình trạng như ngập úng, ngập lụt, sạt lở, phá vỡ cảnh quan, mất cân bằng sinh thái, giảm hiệu quả kinh tế lâu dài, không tạo được bản sắc địa phương...  Nguyên nhân của nhưng tình trạng nêu trên là do công tác lập quy hoạch và triển khai xây dựng theo quy hoạch ở nước ta còn khá nhiều những vấn đề tồn tại. Chất lượng các đồ án QHĐT chưa cao, cách giải quyết còn mang tính chủ quan chưa có sự phối hợp liên ngành, các giải pháp thiết kế nhất là về CBKT còn khá chung chung. Nội dung bản vẽ thiết kế quy hoạch, điều lệ quản lý còn thiếu cụ thể và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch CBKT với QHKG, sử dụng đất. Việc phân tích, đánh giá YTĐH chưa được quan tâm đúng mức, chưa chú ý đến sự ổn định và cân bằng sinh thái. Hệ thống tiêu chuẩn quy phạm và các hướng dẫn thiết kế chưa có những quy định và chỉ dẫn cụ thể cho việc nghiên cứu khai thác và cải tạo địa hình sao cho hiệu quả và phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật ở Việt Nam. Cách ứng xử đối với từng khu vực xây dựng còn mang tính chất cục bộ, chưa xem xét toàn diện và tổng hợp trên toàn bộ khu đất đô thị. QHĐT còn có hiện tượng chạy theo dự án, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt của việc kinh doanh bất động sản. Vấn đề phát triển đô thị bền vững chưa được thật sự chú ý và chưa có các giải pháp cụ thể nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

 

Qua tổng quan về tình hình nghiên cứu YTĐH và các vấn đề có liên quan trong QHĐT trên thế giới và ở Việt Nam có thể nhận thấy con người đã nghiên cứu và có những cách ứng xử khác nhau đối với YTĐH trong tiến trình hình thành và phát triển đô thị từ việc khai thác những điều kiện thuận lợi tới việc cải tạo những bất lợi của địa hình nói riêng và ĐKTN nói chung.

 

Tuy nhiên để công tác QHĐT ngày càng có hiệu quả và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững thì rất cần phải xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với YTĐH phù hợp với điều kiện Việt Nam trên cơ sở xem xét một cách toàn diện các lĩnh vực về kinh tế xã hội, về định hướng phát triển hệ thống đô thị và về địa lý tự nhiên của vùng miền cũng như đặc trưng riêng của mỗi đô thị. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là giải quyết vấn đề về bổ sung lý luận và đúc rút bài học từ thực tiễn cho việc nghiên cứu YTĐH trong QHĐT, lấy địa bàn nghiên cứu và ứng dụng là các đô thị vùng Trung du Bắc Bộ. Đây là nhiệm vụ có tính cấp thiết để từ đó làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo để ứng dụng cho các đô thị tại các vùng miền khác nhau trên khắp cả nước.

 

 

ThS. Vũ Hoàng Điệp - Nguyễn Thị Hồng Vân

 

 



Gửi abc

Thảo luận về dự án: (0 Comments)